Top 7 quốc gia có tỉ lệ sinh cao nhất trên thế giới

0
360

Dựa vào những số liệu thống kê trên thế giới , các quốc gia dưới đây là các nước có tỷ lệ sinh cao nhất hiện nay.

1.Niger
Niger (phiên âm tiếng Việt: Ni-giê; phát âm tiếng Anh /niːˈʒɛər/; phát âm tiếng Pháp: [niʒɛʁ]), có tên chính thức Cộng hoà Niger (République du Niger) là một quốc gia ở Tây Phi. Tên quốc gia đặt theo tên sông Niger. Niger có chung đường biên giới với Nigeria và Bénin về phía nam, Burkina Faso và Mali về phía tây, Algérie và Libya về phía bắc, và Tchad về phía đông. Quốc gia này bai phủ một diện tích trên đất liền là 1.270.000 km², trong đó hơn 80% trong sa mạc Sahara. Dân số cả nước là 15.000.000 người, hầu hết theo đạo Hồi. Dân cư sinh sống tập trung ở miền nam và miền tây đất nước. Thủ đô của Niger là Niamey.
Tuy nhiên đi đôi với tử lệ tử vong trẻ sơ sinh, Niger cũng có tổng tỷ suất sinh cao nhất trên thế giới (7,2 trẻ em mỗi phụ nữ); điều nay có nghĩa là (49%) dân số Niger là dưới 15 tuổi. Trái lại chỉ có 3 bác sĩ và 22 y tá mỗi 100.000 người vào năm 2004.

2.Mali
Mali có tên chính thức là Cộng hòa Mali (République du Mali) là một quốc gia nằm trong lục địa của miền tây châu Phi. Mali là đất nước có diện tích lớn thứ tám châu Phi, và có chung đường biên giới Algérie về phía bắc, Niger về phía đông, Burkina Faso và Côte d’Ivoire về phía nam, Guinée về phía tây nam, Sénégal và Mauritanie về phía tây. Diện tích của Mali vào khoảng 1.240.000 km² và dân số khoảng hơn 14 triệu người. Thủ đô của Mali là Bamako.

Vào tháng 7,2009, dân số của Mali được ước tính là khoảng 13 triệu người, với tỉ lệ tăng hằng năm là 2.7%.[34] Phần lớn dân cư tập trung ở nông thôn (68% năm 2002), và đến 10% người dân Mali sống du mục. Hơn 90% dân số sống ở miền nam của đất nước, đặc biệt là ở Bamako, nơi cư trú của hơn 1 triệu người.


3.Burundi
Burundi ( /bəˈɹʊndɪ/ or /bəˈrʌndi/), tên chính thức Cộng hòa Burundi (tiếng Kirundi: Republika y’Uburundi,[7] [buˈɾundi]; tiếng Pháp: République du Burundi, [buʁundi] hoặc [byʁyndi]) là một quốc gia ở đông châu Phi.

Dân số Burundi hiện nay khoảng 10.216.190 (2010). Dân số Burundi chủ yếu sống ở nông thôn, trong khi 11% dân số sống ở khu vực đô thị vào năm 2010. Mật độ dân số khoảng 315 người trên mỗi km vuông, là nước có mật độ dân số cao thứ hai trong tiểu vùng Sahara. Khoảng 85% dân số là người Hutu, 15% là người Tutsi, và ít hơn 1% là người Pygmy. Burundi có mức sinh cao thứ 3 trên thế giới, tại 6,08 con sinh ra / người phụ nữ (2012 ước tính).


4.Somalia
Somalia (phiên âm tiếng Việt: Xô-ma-li-a, tiếng Somali: Soomaaliya; tiếng Ả Rập: الصومال aṣ-Ṣūmāl), tên chính thức Cộng hoà Liên bang Somalia (tiếng Somali: Jamhuuriyadda Federaalka Soomaaliya, tiếng Ả Rập: جمهورية الصومال Jumhūriyyat aṣ-Ṣūmāl) là một quốc gia nằm ở Vùng sừng châu Phi. Nước này giáp với Djibouti ở phía tây bắc, Kenya ở phía tây nam, Vịnh Aden và Yemen ở phía bắc, Ấn Độ Dương ở phía đông, và Ethiopia ở phía tây.


5.Uganda
Uganda (phiên âm tiếng Việt: U-gan-đa; /juːˈɡændə/ yew-GAN-də hoặc /juːˈɡɑːndə/ yew-GAHN-də), tên gọi chính thức là “Cộng hòa Uganda”, là một quốc gia không giáp biển, nằm hoàn toàn trong lục địa châu Phi. Giáp Kenya về phía Đông, phía Tây giáp với CHDC Congo, Tây Nam giáp Rwanda, phía Bắc giáp Nam Sudan và phía Nam giáp Tanzania. Phía Nam Uganda là vùng hồ Victoria, có chủ quyền gần 1/2 diện tích mặt hồ, chia sẻ quyền khai thác cùng Kenya và Tanzania. Uganda cũng nằm trong lưu vực sông Nin, có khí hậu đa dạng, nhưng nhìn chung chủ yếu là khí hậu xích đạo.

Uganda có dân số hiện vào khoảng 34,6 triệu người (2010) (91% là người bản địa, 1% là người châu Âu, châu Á và người Ả Rập, 8% còn lại là nhóm người). Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, tiếng Luganda và tiếng Swahili là các thổ ngữ được công nhận.


6.Burkina Faso
Burkina Faso (phiên âm Tiếng Việt: Buốc-ki-na Pha-xô[2]) là một quốc gia nằm ở Tây Phi. Nó có biên giới với Mali về phía bắc, Niger về phía đông, Bénin về phía đông nam, Togo và Ghana về phía đông nam, và Côte d’Ivoire về phía tây nam. Trước đây gọi là nước Cộng hòa Thượng Volta, sau đó tháng 4 năm 1984 tổng thống Thomas Sankara đổi tên gọi để có nghĩa “Đất những người đứng lên” trong tiếng Moré và Dioula, ngôn ngữ dân tộc chính của đất nước. Trong tiếng Moré, “Burkina” nghĩa là “Những người đàn ông vẹn toàn”, còn trong tiếng Dioula “Faso” có nghĩa là “Cái nhà của cha”. Đất nước này giành độc lập từ Pháp năm 1960. Sự bất ổn về chính thể đã xảy ra trong thời gian từ năm 1970 đến năm 1980. Cuộc bầu cử nhiều đảng phái đầu tiên được tổ chức vào những năm 1990. Mỗi năm hàng trăm nghìn nông dân nước này di cư sang Côte d’lvoire và Ghana tìm công việc. Họ được gọi là Burkinabé.

Người Burkina Faso có tuổi thọ dự tính lúc sinh là 50. Độ tuổi trung vị của dân cư là 17.

Tốc độ tăng trưởng dân số: 3% (2006).

Dân cư tập trung chủ yếu phía nam và trung tâm đất nước, đôi khi có mật độ hơn 48 người/km². Mật độ dân cư cao là căn nguyên hàng năm của việc hàng trăm nghìn dân di cư lao động mùa vụ.

Xấp xỉ 50% dân số là người Hồi giáo; ước chừng 30% theo Cơ đốc giáo và những người theo tôn giáo truyền thống châu Phi (bái vật giáo) được khoảng 20%. Nhiều tín đồ Cơ đốc giáo kết hợp bái vật giáo vào thực hiện trong tôn giáo của họ.


7.Zambia
Cộng hòa Zambia (tiếng Việt: Cộng hòa Dăm-bi-a[7]; tiếng Anh: Republic of Zambia) là một quốc gia Cộng Hòa nằm ở miền Nam châu Phi. Các nước láng giềng của Zambia bao gồm Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía bắc, Tanzania ở đông bắc, Malawi ở phía đông, Mozambique, Zimbabwe, Botswana, Namibia ở phía nam và Angola ở phía tây. Thủ đô của Zambia là Lusaka, một thành phố nằm ở Đông Nam đất nước. Hầu hết dân số Zambia đều tập trung ở Lusaka và Vành Đồng ở đông bắc.

Dân số hiện nay của Zambia là 11,86 triệu người. Trong đó người châu Phi và người gốc châu Á thuộc 73 bộ tộc chiếm 98,7%,người gốc châu Âu chiếm 1.1%, các dân tộc khác 0.2%. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, ngoài ra còn 5 thứ tiếng khác như tiếng Bantu, tiếng Hindi v.v…

Cùng Danh Mục:

BÌNH LUẬN