Top 6 di sản thế giới được công nhận tại Bolivia

0
126

là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố,… do các nước có tham gia Công ước đề cử cho Ủy ban , được công nhận và quản lý bởi . Sau đó, sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung. Vậy ở có những di sản nào đã được công nhận , chúng ta cùng tìm hiểu sau đây.

1.Fuerte de Samaipata
Fuerte de Samaipata (Fort Samaipata) còn được gọi đơn giản là “El Fuerte” là một địa điểm khảo cổ và là di sản thế giới của UNESCO nằm ở huyện Santa Cruz, tỉnh Florida, Bolivia. Khu vực khảo cổ này nằm ở phía đông chân núi Andes thuộc Bolivia, và là một điểm đến du lịch phổ biến, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Nó được quản lý bởi thị trấn Samaipata gần đó. Đây được coi là một trong số ít các tác phẩm vĩ đại về kiến trúc đá của thế giới.

Nó không thực sự là một pháo đài quân sự nhưng nó được coi là một địa điểm tôn giáo thời tiền Columbo, được xây dựng bởi người Chane, một nền văn hóa tiền Inca có nguồn gốc từ Arawak. Nơi đây mang dấu ấn của những tàn tích về một thành phố và ngôi đền Inca. Nó được xây dựng trong quá trình mở rộng đế chế Inca về phía đông nam. Cả người Inca và Chane chống lại nhiều cuộc tấn công từ các chiến binh của Guarani xâm chiếm khu vực này. Cuối cùng, các chiến binh Guarani cũng đã chinh phục được các vùng đồng bằng thung lũng của Santa Cruz và phá hủy Samaipata. Họ thống trị khu vực tới thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha.

Người Tây Ban Nha cũng đã xây dựng một khu định cư gần ngôi đền và những phần còn lại của tòa nhà mang kiến trúc Ả Rập điển hình của Andalucia. Người Tây Ban Nha bỏ hoang khu vực này và chuyển đến thung lũng gần đó là thị trấn Samaipata ngày nay. Khu khảo cổ tại Fuerte là địa điểm duy nhất bao gồm các tòa nhà của ba nền văn hóa khác nhau:. Chane, Inca và Tây Ban Nha.

2.Khu truyền giáo của dòng Tên ở Chiquitos
Khu truyền giáo của dòng Tên ở Chiquitos nằm tại Vùng Santa Cruz, miền đông Bolivia. Sáu khu truyền giáo còn lại trong số nhiều khu truyền giáo trước đây được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO vào năm 1990. Nó thể hiện sự ảnh hưởng văn hóa của người Amerind và châu Âu, và được hình thành như những khu truyền giáo của Dòng Tên trong thế kỷ 17-18.

Khu vực này giáp với những vùng lãnh thổ của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở Nam Mỹ, phần lớn vẫn chưa được khám phá vào cuối thế kỷ 17. Vua của Tây Ban Nha đã cử những tu sĩ Dòng Tên khám phá và thành lập 11 khu truyền giáo và định cư trong 76 năm ở Chiquitania – sau đó được gọi là Chiquitos – trên biên giới lãnh thổ Tây Ban Nha tại châu Mỹ. Họ xây dựng các nhà thờ theo một phong cách độc đáo và riêng biệt, kết hợp các yếu tố của kiến trúc bản địa và châu Âu. Các cư dân bản địa đã được giảng dạy âm nhạc châu Âu như một phương tiện chuyển đổi tôn giáo. Khu truyền giáo và định cư có nhiệm vụ tự cung tự cấp, phát triển nền kinh tế, mang tính tự trị từ vua Tây Ban Nha.

Sau khi Dòng Tên bị trục xuất theo lệnh vào năm 1767, hầu hết khu truyền giáo dòng Tên ở Nam Mỹ đã bị bỏ hoang và hầu hết trở thành đống đổ nát. Khu truyền giáo dòng Tên ở Chiquitos là khu định cư và văn hóa liên quan duy nhất hầu như nguyên vẹn.

Một dự án phục hồi lớn của các Khu giáo hội truyền giáo dòng Tên bắt đầu với sự xuất hiện của cựu tu sĩ Dòng Tên và kiến trúc sư Hans Roth vào năm 1972. Từ năm 1990, Khu truyền giáo đã trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng. Một lễ hội âm nhạc quốc tế phổ biến được tổ chức hai năm một lần được đưa vào bởi các tổ chức phi lợi nhuận Asociación Pro Arte y Cultura [1] cùng với các hoạt động văn hóa khác trong thị trấn đã góp phần quảng bá về hình ảnh của di sản kiến trúc này.


3.Mạng lưới đường bộ Inca
Mạng lưới đường bộ Inca là hệ thống giao thông rộng lớn nhất và tiên tiến trong thời kỳ Tiền Columbus tại Nam Mỹ. Việc xây dựng những con đường đòi hỏi một chi phí lớn cả về thời gian và công sức, và chất lượng các công trình xây dựng thực tế vẫn đang trong tình trạng khá tốt sau hơn 400 năm sử dụng. Mạng lưới này dựa trên hai tuyến đường Bắc-Nam với nhiều nhánh xuyên qua dãy Andes. Phần nổi tiếng nhất của hệ thống đường bộ này là đường mòn Inca đến Machu Picchu. Một phần của mạng lưới đường bộ được xây dựng bởi nền văn hóa tiền Inca, đặc biệt là trong thời kỳ văn hóa Wari. Trong thời kỳ thực dân Tây Ban Nha, các bộ phận của hệ thống đường bộ được gọi là El Camino Real.


4.Potosí
Potosí là một thành phố và thủ phủ của Vùng Potosí ở Bolivia. Đây là thành phố lớn thứ 8 của quốc gia này, là một trong những thành phố cao nhất trên thế giới bởi nằm ở độ cao 4.090 mét danh nghĩa (13.420 ft), và nó đã được vị trí của nhà máy đúc tiền thực dân Tây Ban Nha, Sở đúc tiền quốc gia của Bolivia. Potosí nằm bên dưới Cerro de Potosí-đôi khi được gọi là Rico Cerro (“núi giàu”), một ngọn núi phổ có nhiều quặng bạc, đã luôn luôn chiếm ưu thế trong thành phố. Cerro Rico là lý do mang lại tầm quan trọng lịch sử Potosí, vì nó là nguồn cung bạc chính cho Tây Ban Nha trong thời gian của Đế quốc Tây Ban Nha Tân Thế giới. Nguồn bạc này được chở bằng tàu về bổ sung kho báu của Tây Ban Nha. Đỉnh Cerro de Potosí cao là 4.824 mét (15.827 ft) trên mực nước biển.


5.Sucre
Sucre được thành lập năm 1538 với tên Ciudad de la Plata de la Nueva Toledo, thường gọi là “La Plata”. Cũng năm đó vua Tây Ban Nha Felipe II lập đơn vị Audiencia de Charcas cho vùng Bolivia, Paraguay, miền bắc Argentina và miền nam Peru. Đơn vị Audiencia này phụ thuộc Phó vương phủ Peru. Năm 1609 thì Tòa Thánh La Mã chọn La Plata làm nơi đặt tòa tổng giám mục nên từ đó trở đi La Plata có địa vị văn hóa quan trọng. Năm 1624 họ đạo Công giáo lại thành lập trường đại học Francisco Xavier ở đây.

Năm 1839 khi Bolivia độc lập, thành phố này được chọn làm thủ đô nhưng tên “La Plata” được đổi thành “Sucre” để vinh danh nhà cách mạng Antonio José de Sucre.

Vận mệnh Sucre suy dần khi mỏ bạc ở Potosí cạn kiệt. Năm 1898 thì chính phủ cho thiên đô về La Paz nên uy thế Sucre là trên danh nghĩa văn hóa mà thôi.
Sucre có khu phố cổ mang niên đại thế kỷ 16-19 được UNESCO ghi nhận là Di sản Thế giới. Nhà thờ San Lázaro, Santo Domingo và Tu viện Recoleta của dòng Phan Xi Cô là những thắng tích cổ.


6.Tiwanaku
Tiwanaku (Tiếng Tây Ban Nha: Tiahuanaco và Tiahuanacu) là một địa điểm khảo cổ tiền Columbian quan trọng ở miền tây Bolivia. Tiwanaku được công nhận bởi các học giả Andean, được coi là một trong những địa điểm quan trọng nhất của đế chế Inca hưng thịnh bao gồm các địa điểm nghi lễ và thủ đô hành chính của một nhà nước quyền lực kéo dài khoảng 500 năm. Những tàn tích của thành phố cổ nằm ở gần bờ biển phía đông nam của hồ Titicaca thuộc vùng đô thị Tiwanaku, tỉnh Ingavi, vùng La Paz, cách thủ phủ La Paz khoảng 72 km (45 dặm) về phía tây. Di chỉ khảo cổ này lần đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử bởi người chinh phục Tây Ban Nha, nổi tiếng với cuốn “biên niên sử đầu tiên của người Indies” là Pedro Cieza de León. Ông đã tìm thấy phần còn lại của Tiwanaku vào năm 1549 trong khi tìm kiếm Qullasuyu của người Inca.[1] Một số người đưa ra giả thuyết rằng, tên hiện đại Tiwanaku liên quan đến ngôn ngữ Aymara trong taypiqala, có nghĩa là “đá ở trung tâm”, ám chỉ đến việc người ta tin rằng vị trí của nó nằm ở trung tâm của thế giới. Tuy nhiên, tên mà người dân ở Tiwanaku gọi có thể đã bị mất, vì người dân Tiwanaku không có ngôn ngữ viết.

Cùng Danh Mục:

BÌNH LUẬN