Top 5 loại thú có vú chạy nhanh nhất trên Trái Đất

0
339

Dù sống trên cạn dưới nước hay trên không , nhưng loài dưới đây được xem là những kẻ vĩ đại nhất trên cuộc đua tốc độ , và đó là loài nào ,chúng ta cùng tìm hiểu sau đây.

1.Báo săn
Báo săn, thường gọi báo gê-pa (do phiên âm từ tiếng Pháp guépard hay tiếng Nga гепард) là (Danh pháp khoa học: Acinonyx jubatus) là một loài báo thuộc họ Mèo và được xếp vào nhóm mèo lớn (theo tiêu chuẩn mở rộng) thuộc bộ ăn thịt nhưng có kích thước và tầm vóc nhỏ hơn nhiều so với bốn con mèo lớn thực sự (hổ, sư tử, báo đốm, báo hoa mai). Một số người thường nhầm loài này với báo hoa mai là loài có ở Việt Nam.

Đây là loài mèo được biết đến với tốc độ siêu việt có thể đạt đến 120 km/h với cấu trúc cơ thể thon gọn, mảnh mai và cao nhỏng, báo săn được thiết kế sinh học để trở thành loài có vận tốc nhanh nhất trong họ nhà mèo, thậm chí là hơn bất kỳ động vật nào trên mặt đất và là một trong những kẻ săn mồi cừ khôi nhất trên thảo nguyên Châu Phi (với tỷ lệ săn mồi thành công lên đến 50%). Hiện nay, báo săn đang thuộc diện nguy cấp và đang giảm dần về số lượng.
Về cấu trúc, phần xương ống được thiết kế hoàn hảo, bộ khung xương của báo săn nhẹ và đặc biệt là khoảng 60% khối lượng cơ bắp định vị trên xương sống, xương sống kéo dài và chụm lại bổ sung lực giúp cho sải chân của nó rộng thêm 0,7m giúp nó đạt gần 8m trong mỗi bước chạy và con báo chỉ cần 04 bước là đạt tốc độ tối đa trong điều kiện không có vật cản. Đây là bí quyết cho những sải chân thần tốc, giúp nó có thể thực hiện 01 cuộc tăng tốc ngoạn mục từ 0 đến 95 km chỉ trong vòng 03 giây.. Bên cạnh đó, báo có cấu tạo với một sợi giây chằng kết nối trực tiếp cổ với cột sống cho phép nó ổn định hình ảnh quang học giúp nó ngay khi ở tốc độ cao cổ và đầu hoàn toàn ổn định di chuyển thẳng về phía trước như một mũi tên làm tăng độ chính xác khi đuổi theo và tiêu diệt con mồi.

2.Linh dương sừng nhánh
Linh dương sừng nhánh (danh pháp khoa học: Antilocapra americana) là một loài động vật đặc hữu nội địa tây và trung bộ Bắc Mỹ. Nó là loài duy nhất còn tồn tại của họ Antilocapridae. Trong thời kỳ Pleistocene, 12 loài Antilocapridae đã tồn tại ở Bắc Mỹ.

Hiện nay loài này có không có kẻ thù thực sự. Chúng là những động vật có vú nhanh nhất ở Bắc Mỹ, có thể chạy 65 km / h trong vài km, nhảy cao từ 3 đến 6 mét, tốc độ tối đa được ghi nhận là 98 km / h.

Kết quả là, con trưởng thành hiếm khi trở thành con mồi của các loài động vật săn mồi khác. Chó sói, chó sói Bắc Mỹ, sư tử núi và đại bàng vàng có thể giết chết con non sau khi sinh một vài ngày, nhưng ngay cả điều này là không phổ biến, do khi linh dương nhỏ có thể bỏ ra hàng giờ cúi thấp giữa các thảm thực vật và không thực hiện bất kỳ chuyển động có thể khiến con mồi phát hiện. Một vài tuần sau khi sinh và tiếp tục dừng chân ẩn của mẹ mình, con non nhanh hơn so với các con săn.


3.Linh dương đầu bò
Linh dương đầu bò là một chi linh dương, Connochaetes. Thuộc về họ Bovidae, bộ Artiodactyla, trong đó bao gồm linh dương, trâu, bò, dê, cừu và những động vật móng guốc có sừng khác. Danh pháp khoa học là Connochaetes bao gồm hai loài, cả hai có nguồn gốc từ châu Phi: linh dương đầu bò đen, hay linh dương đầu bò đuôi trắng (C. gnou); và linh dương đầu bò xanh, hay linh dương đầu bò nâu đốm (C. taurinus). Báo cáo hóa thạch cho biết hai loài tách ra khoảng một triệu năm trước, kết quả một loài phía Bắc và một loài phía Nam. Linh dương đầu bò xanh vẫn trong phạm vi ban đầu của loài và thay đổi rất ít từ loài tổ tiên, trong khi linh dương đầu bò đen thay đổi nhiều hơn để thích nghi với môi trường sống đồng cỏ rộng ở phía nam. Cách rõ ràng nhất để kể về hai loài là những khác biệt về màu sắc lông và hình dạng cặp sừng định hướng.


4.Linh dương nhảy
Linh dương nhảy, tên khoa học Antidorcas marsupialis, là một loài động vật có vú trong họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Zimmermann mô tả năm 1780.Loài này sinh sống ở Tây Nam châu Phi. Linh dương nhảy có tốc độ rất nhanh, có thể đạt tốc độ chạy 88 km/h và có thể nhảy xa 4 m. Chúng có thân hình thanh mảnh, cổ dài, với tổng chiều dài 150–195 cm (59–77 in), và sừng có ở cả con đực và con cái. Con trưởng thành cao từ 70 đến 90 cm đến vai, tùy thuộc vào trọng lượng và giới tính; chúng có cân nặng từ 30 đến 44 kg cho con cái và 33 và 48 kg cho con đực. Đuôi dài 15–30 cm.


5.Sư tử
Sư tử (tên khoa học Panthera leo) là một trong những đại miêu trong họ Mèo và là một loài của chi Báo. Được xếp mức sắp nguy cấp trong thang sách Đỏ IUCN từ năm 1996, các quần thể loài này ở châu Phi đã bị sụt giảm khoảng 43% từ những năm đầu thập niên 1990. Trong văn hóa phương Tây, sư tử còn có biệt danh là Chúa tể sơn lâm (King of Beats) hay Vua sư tử (Lion King). Đối với sư tử đực thì rất dễ dàng nhận ra được bởi bờm của nó, có thể nặng tới 350 kg (770 lb), nó là loài lớn thứ nhì họ Mèo sau hổ. Sư tử hoang dã hiện sinh sống ở vùng châu Phi hạ Saharan và châu Á (nơi quần thể còn sót lại cư ngụ ở vườn quốc gia Rừng Gir thuộc Ấn Độ), các phân loài sư tử tuyệt chủng từng sống ở Bắc Phi và Đông Nam Á. Cho tới cuối Pleistocene, khoảng 10 000 năm trước, sư tử là động vật có vú có phân bố rộng thứ 2 chỉ sau con người. Khi đó, chúng sống ở hầu khắp châu Phi, ngang qua lục địa Á-Âu từ miền Tây Âu tới Ấn Độ, và châu Mỹ từ Yukon tới Peru. Sư tử là loài sắp nguy cấp, phần lớn các quần thể châu Phi suy giảm số lượng 30–50% mỗi 2 thập kỷ trong nữa cuối thập kỷ XX.

Sư tử sống từ 10–14 năm trong tự nhiên, trong môi trường giam cầm chúng có thể sống hơn 20 năm. Trong tự nhiên, con đực hiếm khi sống hơn 10 năm, do hậu quả của việc đánh nhau liên tục với các sư tử đối thủ.Chúng thường sống ở savan và thảo nguyên. Sư tử có tập tính xã hội khác biệt so với các loài họ Mèo còn lại. Một đàn sư tử gồm con cái và con non của chúng cùng với một số nhỏ con đực trưởng thành. Nhóm sư tử cái thường đi săn cùng nhau, con mồi chủ yếu là động vật móng guốc lớn.

Cùng Danh Mục:

BÌNH LUẬN