Top 10 bánh được dùng làm quà tặng nổi tiếng khắp 3 miền của Việt Nam

0
178

Trên hành trình du lịch của mình, du khách khi trở về đều muốn tìm mua những món quà đặc sản mang nét đặc trưng của địa phương để làm quà cho người thân, bạn bè. Chính vì lẽ đó các món bánh đặc sản địa phương luôn được quan tâm đặc biệt. Có lẽ, những món quà bánh này “chở” trong nó “hương vị” mà du khách cũng như người thân, bạn bè không thể tìm thấy được ở bất kỳ nơi nào khác.

1. Bánh cốm Hàng Than (Hà Nội)

Nhắc đến đặc sản Bánh cốm Hà Nội, ta lại chợt nhớ đến những dòng văn thấm đượm hương vị đồng nội của nhà văn Thạch Lam: “Cốm không phải là thức quà của người vội; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại cả trong hương vị ấy, cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc.” (Trích Một thứ quà của lúa non: Cốm)

Chẳng biết từ bao giờ, bánh cốm đã trở thành một trong những món đặc sản đầy ý nghĩa của người dân thủ đô. Không còn phải đợi đến mỗi mùa thu nữa, cốm bây giờ đã được làm khô và bán quanh năm. Vì vậy nếu yêu thích món ăn này, các bạn có thể mua bánh cốm bất kì ở đâu và bất cứ lúc nào. Món bánh này gợi lên trong lòng những người con xa quê, những tâm hồn hoài cổ về một nét văn hóa đẹp, thanh tao trong việc thưởng thức ẩm thực của người Hà Nội.

2. Bánh phu thê Đình Bảng (Bắc Ninh)

Bánh Phu Thê thường gói thành từng cặp là một trong lễ vật không thể thiếu trong đám cưới hỏi của người Kinh Bắc, như một biểu tượng chung thủy của lứa đôi.
Nếu đã có dịp đến thăm Đền Đô, phường Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh chắc hẳn không ai còn xa lạ với món bánh xu xuê bán dọc lối vào. Bánh không chỉ là thứ quà quê dân dã được lòng du khách ghé chơi, mà còn là đặc sản nổi tiếng của vùng quê Kinh Bắc với tên gọi bánh phu thê.

3. Bánh đậu xanh (Hải Dương)

Bánh đậu xanh là một loại thức ăn ngọt làm từ bột đậu xanh quết nhuyễn với đường và dầu thực vật hay mỡ động vật, thường là mỡ heo. Bánh được cắt thành từng khối vuông nhỏ, gói giấy bạc thành hộp nhỏ hay gói giấy thấm mỡ thành từng thỏi. Bánh thường được dùng khi uống trà tàu hay chè xanh, khi đó sẽ tạo cảm giác thư thái. Địa phương làm bánh đậu xanh nổi tiếng là Hải Dương.

Nguyên liệu để chế biến bánh gồm: Đậu xanh, đường kết tinh, mỡ lợn, tinh dầu của hoa bưởi. Tất cả đều phải được chọn lọc và được chế biến tinh khiết. Bốn nguyên liệu trên pha trộn với nhau theo một tỉ lệ hợp lý, vượt tỉ lệ đó bánh sẽ kém chất lượng. Giấy gói bánh, màu sắc của nhãn, phải được xem xét cẩn thận để bánh giữ được lâu và tôn vẻ đẹp của bánh. Bánh từ lâu đã được đóng theo một cách ổn định riêng: 10 khẩu mỏng xếp 5 hàng (8,5 x 3,2 x1,1 cm) nặng 45 gam, gần đây đã có những cải tiến, nhưng quy cách của khẩu không thay đổi.

4. Bánh cáy (Thái Bình)

Bánh cáy có nguồn gốc từ làng Nguyễn, xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Khi ăn, người thưởng thức sẽ cảm nhận được vị ngọt, bùi, lại có chút béo đan xen cùng với độ giòn, lại vừa dẻo vừa dai. Thú vị hơn nữa là lại được nhâm nhi bên ấm trà xanh nóng trong tiết trời se se lạnh, vị trà ấm kết hợp với vị cay nóng của gứng trong miếng bánh sẽ khiến người ăn cảm thấy ấm dạ, khoan khoái.
Nhiều người vẫn nhầm tưởng rằng bánh cáy được làm từ con cáy bởi trong dân gian cũng có truyền thuyết cho rằng bánh cáy là do thần cáy ở biển ban cho. Tuy nhiên, trên thực tế, bánh cáy là một loại bánh được làm từ gạo nếp, vừng, lạc kết hợp thêm các loại lá, quả để tạo ra các màu trắng, xanh, vàng cho miếng bánh. Có thể nói, đây là loại bánh rất đặc trưng mà ngoài Thái Bình ra không nơi nào có được.

5. Bánh nhãn Hải Hậu (Nam Định)

Gọi là bánh nhãn vì bánh làm ra trông xinh xắn, vàng ươm như những quả nhãn. Bánh nhãn được người trong Nam, ngoài Bắc yêu thích vì sự giòn ngọt mát của thứ bánh thoạt trông đã thấy hấp dẫn.

Làm bánh nhãn, cần nếp Hải Hậu, trứng gà tươi, đường kính trắng, mỡ lợn tươi ngon. Gạo nếp xay nhỏ, rây kĩ. Bánh nhãn không nhào bột nếp với nước mà nhào luôn vào trứng gà đã đánh tan. Bột nếp và trứng gà phải được nhào thật khéo để được hỗn hợp dẻo, mịn.

Bánh nhãn được chiên trong chảo ngập mỡ. Lửa thật nhỏ để mỡ nóng dần dần. Viên bột nhỏ xíu, trong chảo mỡ nóng có thể nở phồng thành những viên bánh nhãn tròn xoe. Lúc ấy, người ta nhanh chóng vớt bánh ra cho ráo mỡ, rồi đem bánh vào “hoán đường” trong một chảo khác, có đường kính trắng đã được nấu tan chảy. Mật đường bám vào viên bánh, làm vỏ ngoài từng viên bánh bỗng nhiên bóng hơn. Bánh nhãn thêm giòn, và ngọt tự nhiên cũng từ chảo đường sóng sánh này.

Bánh nhãn được nhâm nhi bên chén trà buổi sớm, ấm áp bên tách cà phê xế chiều hay đơn giản, mời nhau cho câu chuyện thêm vui đều mang lại vị ngọt ngào, lôi cuốn.

6. Bánh gai Tứ Trụ (Thanh Hóa)

Tứ Trụ thuộc xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hoá 40 km về phía Tây. Thế kỷ thứ XV, Tứ Trụ nằm trong vùng căn cứ khởi nghĩa Lam Sơn do anh hùng dân tộc Lê Lợi lãnh đạo.

Bánh gai Tứ Trụ khởi đầu là do người làng Mía trong vùng làm ra để cúng giỗ Lê Lợi, Lê Lai, cúng ông bà Tổ tiên trong Tết Nguyên đán và lễ hội trong năm. Dần dần nghề làm bánh gai được phổ biến ở các làng vùng Tứ Trụ xã Thọ Diên và trở thành đặc sản của xứ Thanh nổi tiếng cả nước.

Nguyên liệu làm dễ tìm kiếm, nhưng lại hơi cầu kỳ. Gạo nếp cái hoa vàng xay lọc lấy tinh bột, mật mía loại ngon nhất vùng, thịt lợn nạc làm thành ruốc bông, đậu xanh đãi vỏ, đồ chín giã nhỏ, dừa già nạo thành sợi trắng như sợi cước, vừng rang vàng thơm, lá gai (cây gai mọc trên đồi, củ gai thường làm thuốc an thai) tước gân, luộc lên giã nhỏ lấy tinh bột, lá chuối khô để gói bánh. Bánh gai Tứ Trụ có hương vị ngon mà các loại bánh ngọt khác không có được.

7. Bánh khô mè Cẩm Lệ (Đà Nẵng)

Mỗi làng nghề cổ truyền đều có những nét đẹp cổ truyền riêng biệt, Cẩm Lệ cũng vậy. Bên cạnh sự thanh bình của làng quê ven đô, Cẩm Lệ còn gây ấn tượng bởi những cánh đồng mía ven bờ sông. Đây cũng là nguồn nguyên liệu để làm đường non cho món bánh khô mè Cẩm Lệ.

Bắt nguồn từ một món ăn ngày lễ Tết của những người dân nghèo hồi xưa, đến nay bánh khô mè đã phát triển thành một đặc sản của người Quảng. Bánh được sản xuất quanh năm ở một số vùng thuộc Quảng Nam, Đà Nẵng. Song nổi tiếng hơn cả vẫn là bánh khô mè Cẩm Lệ.
Giống như rất nhiều loại bánh truyền thống của Việt Nam như bánh tét, bánh đa, bánh tố… bánh khô mè cũng được chế biến từ bột gạo – nếp. Bánh khô của xứ Quảng có hai loại: khô nổ và khô mè. Chất liệu nền của hai loại này đều giống nhau: bột gạo nếp, chỉ khác lớp phủ bên ngoài.

Bánh khô nổ được bao bọc bởi bột nếp, còn bánh khô mè phủ quanh là mè, thoạt trông giống như mè xửng xứ Huế. Theo những người làm nghề lâu năm, bánh khô mè là một bước cải tiến của bánh khô nổ để phù hợp khẩu vị của người dân các vùng Nam Bắc.

8. Bánh phồng sữa dừa Bến Tre

Bánh phồng sữa dừa, một trong những đặc sản của tỉnh Bên Tre. Đây là món quà được làm chủ yếu từ dừa, bột gạo, pha với bột sắn, nước, đường, mè, đậu xanh, lá dứa, sầu riêng… theo một công thức, tỷ lệ hợp lý.

Khi tráng bánh người ta trải một tấm khăn trên nồi có nước sôi bên trong. Để ra được bánh phồng sữa vừa mềm, dẻo, thơm, phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật đổ bánh, động tác đổ phải thật khéo léo, nhanh nhẹn, sau đó rắc mè lên trên. Bánh chín để lên nan tre mỏng và phơi nắng từ 3 đến 5 ngày. Khi thưởng thức, người ăn sẽ cảm nhận vị bùi béo của nước cốt dừa, độ mịn, mềm của bột gạo kết hợp cùng bột sắn. Đặc biệt mùi thơm của sầu riêng tạo nên hương vị khó quên của bánh phồng sữa dừa.

Từ lâu Bến Tre đã là địa danh yêu mến của nhiều du khách. Đây là vùng đất ba dãy cù lao hợp thành, xung quanh bao bọc bởi những dòng sông, con rạch hiền hòa, êm dịu, phủ mát bóng dừa xanh. Cùng với nhiều sản phẩm khác, bánh phồng sữa dừa đã trở thành “quà tặng” thân thiết dành cho gia đình, người thân, bạn bè… của những người một lần đến với mảnh đất cù lao Bến Tre. Và, hương vị đặc trưng của loại bánh này được sản xuất từ các doanh nghiệp, cơ sở như Thiên Long, Thanh Long, Thủy An, Tuyết Linh…

9. Bánh phồng tôm Sa Giang (Đồng Tháp)

Bánh phồng tôm Sa Giang nổi tiếng từ lâu. Từ con tôm nước ngọt như tôm tích, tép mòng, tép ròng… qua bàn tay chế biến khéo léo của con người đã trở thành bánh phồng tôm Sa Giang, sản phẩm truyền thống đặc trưng của tỉnh Đồng Tháp.

Bánh được làm từ bột, thịt tôm xay nhuyễn và một ít hạt tiêu giã nhỏ. Các thành phần nguyên liệu sau khi trộn với nhau sẽ được nhồi vào những chiếc túi vải dạng hình ống dài. Sau khi hấp chín, người ta cắt ra từng lát tròn mỏng rồi đem phơi khô. Đem chiên giòn với dầu ăn nóng, bánh sẽ nở to ra, có độ giòn, xốp, béo ngậy. Những chiếc bánh tròn vành vạnh ngả màu vàng đục tựa như ánh trăng rằm, có hương vị nồng thơm, cay cay, đậm đà văn hoá ẩm thực của dân tộc sẽ khiến bạn ăn rồi lại muốn ăn thêm chiếc nữa…

Những khi lễ, Tết, liên hoan, tiệc tùng… đĩa bánh phồng tôm thường có mặt trang trọng trên mâm cỗ. Sản phẩm bánh phồng tôm Sa Giang của xứ Sa Đéc ngày nay đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng, có mặt khắp nơi và còn là một trong những mặt hàng thực phẩm xuất khẩu của Đồng Tháp được ưa chuộng.

10. Bánh pía (Sóc Trăng)
Bánh pía là những chiếc bánh có hình dáng nhỏ, tròn, không quá bở, mềm và có một độ dẻo vừa phải để có thể ngậm vào miệng mà không tan ngay. Nhưng điều đặc biệt là vị ngọt thơm nguyên chất hương sầu riêng mà bất cứ một loại hương liệu nhân tạo nào cũng không thể thay thế được. Đó cũng là nét thuần Việt mà chiếc bánh pía có được như một hương vị gắn liền với cuộc sống người Sóc Trăng cũng như người Nam Bộ hàng trăm năm qua.

Muốn có được mùi vị, màu sắc hấp dẫn, bánh pía Sóc Trăng phải qua rất nhiều công đoạn. Riêng phần nhân được làm từ khoai môn, đậu xanh, hột vịt muối xào với đường và cho thêm sầu riêng theo tỷ lệ vừa phải. Hỗn hợp trên để nguội đem bọc với lòng đỏ hột vịt muối. Nếu muốn tăng vị béo có thể thêm thịt heo (lợn). Riêng vỏ bánh được làm bằng bột mì bằng cách cán, cuộn bột mì, gấp lại nhiều lần để tạo nên vỏ bọc với những lớp “bột nước” và “bột dầu” chồng lên nhau. Cuối cùng, bánh được đưa vào lò nướng ở nhiệt độ trung bình khoảng 270 oC. Sau 5-7 phút, thợ đứng lò sẽ lấy bánh ra, lật ngược mặt bánh rồi thoa lên một lớp lòng đỏ trứng và đưa vào lò trở lại. 15 phút sau, khi chiếc bánh chuyển sang màu vàng ươm chính là lúc chiếc bánh đã thành phẩm và dùng được ngay.

Cùng Danh Mục:

BÌNH LUẬN