Top 10 người hùng – thần tượng có sức ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ XX

0
163

Họ tuy xuất thân trong nhiều lĩnh vực khác nhau , những họ đều là huyền thoại trong long người hâm mộ bởi tài năng ngút trời của mình . Chúng ta cùng tìm hiểu họ là ai sau đây.

1.Muhammad Ali
Muhammad Ali ( /ɑːˈliː/; tên khai sinh: Cassius Marcellus Clay Jr.; 17 tháng 1 năm 1942 – 3 tháng 6 năm 2016) là một cựu vận động viên quyền Anh người Mỹ, người từng 3 lần giành chức vô địch hạng nặng và một lần dành huy chương vàng Olympic hạng vừa. Năm 1999, Ali được tạp chí thể thao Sports Illustrated và BBC tôn vinh là “vận động viên của thế kỷ”.

Ali sinh tại Louisville, Kentucky. Ông được đặt theo tên của cha ông, Cassius Marcellus Clay Sr., người được đặt tên theo tên của nhà chính trị và người theo chủ nghĩa bãi nô thế kỷ 19, Cassius Marcellus Clay. Ali đổi tên sau khi cải theo đạo Hồi năm 1964 và rồi sau chuyển sang Hồi giáo Sunni năm 1972.

Ali được coi như một biểu tượng mọi thời đại trong làng quyền anh thế giới vì những thành tích mà chưa ai có thể sánh được: Thắng 56 trận (37 knockouts, 19 tính điểm), Thua 5(4 tính điểm, 1 TKO), Hòa 0. Từng đạt huy chương vàng Olympic tại Roma. Được các tạp chí thể thao quốc tế bầu chọn là ” Vận động viên vĩ đại nhất thế kỉ XX “. Là 1 huyền thoại về quyền anh.


2.Diana
Diana, Vương phi xứ Wales (Diana Frances Mountbatten-Windsor; nhũ danh Spencer; 1 tháng 7 năm 1961 – 31 tháng 8 năm 1997), báo chí Việt Nam thường gọi là Công nương thay vì Vương phi, là vợ thứ nhất của Charles, Thân vương xứ Wales[2], con trai trưởng của Nữ hoàng Elizabeth II. Hai con trai của bà là Hoàng tử William và Hoàng tử Harry, xếp thứ hai và thứ ba trong thứ tự kế vị ngôi vua của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và 15 vùng đất khác thuộc Khối thịnh vượng chung trong thời gian bà còn sống.

Diana và Thái tử Charles công bố đính hôn vào ngày 24 tháng 2 năm 1981, và cô tham dự rất nhiều sự kiện của hoàng gia trước khi họ lấy nhau vào ngày 29 tháng 7 năm 1981 tại Nhà thờ St. Paul. Diana trở thành người nổi tiếng sau khi bà đính hôn với Thái tử Charles. Cuộc sống của bà trở thành đề tài chú ý của công chúng do địa vị hoàng gia và các hoạt động xã hội của bà. Sau nhiều năm dư luận bàn tán về các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân của họ, khiến cho Thái tử Charles và Diana phải ly dị vào ngày 28 tháng 8 năm 1996, kết thúc 15 năm về cuộc hôn nhân của họ. Một năm sau khi Diana ly dị với Thái tử Charles, bà thiệt mạng do hậu quả của thương tích trong một vụ tai nạn xe hơi xảy ra dưới đường hầm cầu Alma ở Paris, Pháp vào ngày 31 tháng 8 năm 1997. Cái chết của bà lập tức dẫn đến một giai đoạn thương tiếc và để tang của dân chúng Anh quốc, cũng như toàn thế giới. Elton John có bài hát “Candle in the Wind 1997” để tưởng nhớ bà.


3.Anne Frank
Annelies Marie Frank (nghe (trợ giúp·chi tiết) (12 tháng 6 năm 1929 – 12 tháng 3 năm 1945) là nhà văn và tác giả hồi ký người Đức gốc Do Thái. Cô là một trong những nạn nhân người Do Thái được biết đến nhiều nhất trong cuộc tàn sát Holocaust. Tác phẩm Nhật ký Anne Frank, ghi chép lại cuộc đời của cô trong khi ẩn náu lúc quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng thời Thế chiến thứ 2, là một trong những quyển sách nổi tiếng nhất thế giới, gây cảm hứng cho nhiều vở diễn và tác phẩm điện ảnh.

Sinh ra tại Frankfurt am Main, Đức, Anne lớn lên gần Amsterdam, Hà Lan. Vào năm 1941, cô bị tước đi tư cách công dân và trở thành người không có quốc tịch. Sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền vào tháng 1 năm 1933, gia đình Anne Frank rời khỏi Frankfurt đến Amsterdam cuối năm 1933 để thoát khỏi sự truy đuổi của Đức Quốc xã. Từ tháng 7 năm 1942, họ sống trốn tránh trong những căn phòng được ngụy trang, khi đó Anne 13 tuổi. Sau hai năm, do bị chỉ điểm, gia đình Anne bị phát hiện và đưa tới trại tập trung của Đức Quốc xã. Vào tháng 2 hoặc tháng 3 năm 1945, khi cô 15 tuổi, Anne cùng chị gái Margot Frank mất tại trại Bergen-Belsen, chỉ vài tuần trước khi trại giải thể vào tháng 4.

Ông Otto Frank, cha của Anne là người duy nhất trong nhóm sống sót trở về Amsterdam sau chiến tranh và tìm thấy nhật ký của con gái do Miep Gies lưu giữ. Ông đã quyết định cho xuất bản cuốn nhật ký bằng tiếng Hà Lan với tên Het Achterhuis: Dagboekbrieven van 12 Juni 1942 – 1 Augustus 1944 (Căn nhà phía sau: Những trang nhật ký từ 12 tháng 6 năm 1942 – 1 tháng 8 năm 1944) vào năm 1947. Phiên bản tiếng Anh của cuốn nhật ký ra mắt vào năm 1952 với tựa đề The Diary of a Young Girl, sau đó được chuyển thể sang hơn 60 ngôn ngữ. Cuốn nhật ký mà Anne được tặng nhân dịp sinh nhật lần thứ 13, đã ghi lại cái nhìn của cô về những sự kiện xảy ra trong khoảng thời gian từ 12 tháng 6 năm 1942 tới 1 tháng 8 năm 1944.


4.Lý Tiểu Long
Lý Chấn Phiên (tiếng Anh: Bruce Jun Fan Lee, 27 tháng 11 năm 1940-20 tháng 7 năm 1973[1]) với nghệ danh Lý Tiểu Long là nam diễn viên võ thuật gốc Hoa nổi tiếng trong nền điện ảnh Hoa Kỳ, đồng thời là võ sư sáng lập võ phái Triệt quyền đạo. Anh được tờ tạp chí Time xếp vào danh sách 100 nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất của thế kỉ 20.


5.Jackie Robinson
Jack Roosevelt “Jackie” Robinson (31 tháng 1 1919 – 24 tháng 10 1972) là cầu thủ người Mỹ gốc Phi đầu tiên chơi tại giải bóng chày Major League Basebal của Mỹ trong thời kỳ hiện đại. Dù không phải là cầu thủ người Mỹ gốc Phi đầu tiên trong lịch sử chơi tại giải bóng chày Bắc Mỹ nhưng Robinson là người đã xóa bỏ ranh giới phân biệt chủng tộc khi ông ra mắt trong màu áo đội Brooklyn Dodgers giữa thập niên 1940. Điều này đã chấm dứt gần 60 năm thời kỳ phân biệt chủng tộc trong môn bóng chày chuyên nghiệp, trong đó những người Mỹ gốc Phi bị cấm thi đấu tại Giải bóng chày Bắc Mỹ và hệ thống những giải nhỏ liên quan và chỉ được chơi tại giải bóng chày Negro dành riêng cho các cầu thủ người Mỹ gốc Phi. Vì phân biệt chủng tộc vẫn thống trị mọi mặt trong cuộc sống ở Mỹ thời đó nên sự nghiệp bóng chày của Robinson đã có tác động văn hóa to lớn vượt qua lĩnh vực thể thao và là một dấu hiệu báo trước cho Phong trào Nhân quyền tại Mỹ.

Sinh ra trong một gia đình làm nông ở Cairo, tiểu bang Georgia năm 1919, là con út trong số 5 người con. Ông nội của ông từng là nô lệ, còn cha ông làm nông nhưng không có đất, phải đi thuê lại đất của tá điền để canh tác (và như vậy phân nửa số hoa màu họ thu hoạch trên phần đất thuê sẽ thuộc về chủ đất). Khi Jakie mới được 6 tháng tuổi, cha ông bỏ gia đình đi bang khác sinh sống. Không có người cha phụ trách việc đồng áng, Jakie và gia đình phải rời nông trại. Năm 1920 Jakie và gia đình chuyển đến Pasadena, California, sống chung căn hộ nhỏ với người cậu. Mẹ ông phụ trách việc giặt giũ trong nhà như một cách trả tiền thuê, còn Jakie thường lấy bánh mì cũ từ hôm trước chấm sữa và đường ăn lót dạ trước khi đi ngủ. Bằng cách nào đó, mẹ ông xay sở để giành được một ít tiền, cộng thêm khoản trợ giúp của đơn vị phúc lợi xã hội, bà mua được một căn nhà nhỏ. Mấy người hàng xóm da trắng của họ gọi mấy anh em ông bằng những cái tên xấu xa, thậm chí ném đá. Mặc cho họ làm mọi cách để gia đình họ phải chuyển đi chỗ khác, nhưng mẹ của Jakie cương quyết không bỏ đi vì những trò chửi bới đầy phân biệt chủng tộc ấy. Mẹ ông mong hai con học giỏi ở trường, và dù Jackie là trò giỏi, nhưng trái tim ông lúc nào cũng hướng về thể thao và các trò chơi hơn là chuyện học hành. Sau giờ học, ông đi bán đồ lạc xoong, đánh giày và bán báo để kiếm thêm tiền. Ông còn giao du với một nhóm cồn đồ trong khu phố và nếu không có sự xuất hiện của hai người đàn ông nọ, hẳn ông đã sa vào đủ loại rắc rối. Người thứ nhất là một người thợ máy gần nhà cảm thương tình cảnh của ông, nên cố khuyên ông rằng nếu còn giao du với bọn bất hảo đó nữa, trước sau gì ôn cũng làm hại bản thân mình và cả cho mẹ ông nữa. Người còn lại là vị linh mục trong nhà thờ vốn đã trở thành bạn và cả cố vấn của ông, và thổi bùng niềm đam mê thể thao trong ông.

Jackie chơi tất cả các môn thể thao, và chơi rất giỏi. Lần đầu tiên chơi bóng bàn, ông đã đoạt ngôi vô địch toàn thành phố, vụt trở thành ngôi sao sáng giá của trường cấp ba – điểm số các môn bóng bầu dục, chạy điền kinh, bóng chày và bóng rổ của ông luốn cap ngất ngưởng. Khi vào trường trung cấp Pasadena năm 1938, ông lập một kỷ lục mới trong môn nhảy xa với kết quả hơn 23 mét vào buổi sáng, thì đến buổi chiều ông đã khoác lên người bộ đồng phục thi đấu bóng chày. Với những lần tham gia này, ông đã giúp đội nhà đoạt chức vô địch. Đội bóng bầu dục và bóng rổ ông tham gia đều đoạt danh hiệu vô địch liên đoàn, và các huấn luyện viên dĩ nhiên nhanh chóng ngỏ lời mời ông về trường đại học của họ. Jackie chọn Đại học California tại thành phố Los Angeles (UCLA), để được học gần nhà. Bóng bầu dục là tình yêu to lớn nhất của ông vào thời điểm đó, và ông giữ vị trí trung vệ và hậu vệ cho nhà vô địch UCLA năm 1939. Khi mùa bóng kết thúc, ông chuyển sang chơi bóng rổ, điền kinh và bóng chày. Ông chơi giỏi đến mức trở thành vận sinh viên đầu tiên của UCLA được trao huy hiệu vì những đóng góp quý giá cho thành tích thi đấu thể thao của trường. Mùa xuân năm 1941, ông nghỉ học vì muốn ra ngoài kiếm tiền phụ giúp mẹ, và ông cũng không dám chắc một người da đen với tấm bằng cao đẳng có kiếm nổi việc khi ra trường hay không. Ngày 7 tháng 12 năm 1941, quân đội Nhật đánh bom Trân Châu Cảng và sáu tháng sau, ông nhận được giấy gọi nhập ngũ.

Khi trưởng thành: Quân đội chuyển ông đến Fort Riley vùng Kansas, tại đây ông hoàn tất khóa huấn luyện căn bản và xin được tiếp tục theo học trường đào tạo sĩ quan (OCS). Nhưng quân đội không nhận học viên người da đen. Jackie than thở với Joe Louis, nhà vô địch đánh bốc hạng nặng thế giới, người cũng nhập ngũ và tập trung tại căn cứ Fort Riley vào thời điểm đó. Không lâu sau, hồ sơ xin học của Jakie được OCS chấp thuận, ông tốt nghiệp năm 1943 và được trao quân hàm Thiếu úy. Sau khi giải ngũ năm 1944, ông muốn quay lại chơi bóng chày, nhưng thời điểm đó, không một vận động viên da đen nào được chơi trong đội tham gia các giải lớn của liên đoàn. Ông vào đội Kansas City Monarchs, tham gia giải Negro, tại đây tình trạng phân biệt chủng tộc như trong quân đội vẫn không ngừng xảy ra. Rất nhiều khách sạn, nhà hàng từ chối phục vụ người da đen, vậy nên ông và các đồng đội thường ăn, ngủ trên xe chở cầu thủ. Nhưng tại New York, một người đàn ông nuôi ý định dẹp bỏ rào cản màu da cho các cầu thủ bóng chày. Branch Rickey, ông bầu đội bóng Brooklyn Dodgers, quyết định đã đến lúc phải chấm dứt nạn phân biệt chủng tộc trong môn thể thao này. Rickey biết cầu thủ da đen đầu tiên vào chơi cho Dodger sẽ bị các fan hâm mộ và cả những đồng đội tẩy chay, thế nên nhân vật ấy không thể chỉ là một cầu thủ xuất sắc, người ấy phải có phẩm cách tốt đẹp. Năm 1945 Rickey quyết định Jackie sẽ là cầu thủ đó! Jakie biết mọi thứ sẽ khó khăn, nhưng ông chấp nhận đương đầu thử thách vì ông nghĩ có thể mở ra cánh cửa cho các cầu thủ da đen khác trên thế giới. Jackie gia nhập đội Montreal Royals, đội bóng bán chuyên của Dodger, và dù người hâm mộ ra sức châm chọc, ông vẫn không mất đi tinh thần thi đấu. Rickey sau đó quyết định đã đến lúc đưa Jakie vào thi đấu giải chuyên nghiệp. Ngày 15 tháng 4 năm 1947 là cột mốc lịch sử của giải bóng chày chuyên nghiệp và trên toàn nước Mỹ. Khi giải được khai mạc vào ngày hôm ấy, Jakie đứng trong hàng ngũ đội Dodger, người Mỹ gốc Phi đầu tiên được tham gia giải bóng chày chuyên nghiệp Bắc Mỹ. Lúc đầu, các đồng đội người da trắng chẳng thèm quan tâm gì ông, nhưng khi fan hâm mộ và các cầu thủ đội bạn quấy rối Jakie bằng cách huýt sáo chê bai và nói những câu mạt sát về màu da, cả đội đoàn kết đứng lên ủng hộ ông. Jackie đáp lại tất cả những điều ấy bằng đôi chân và cây gậy bóng chày trong tay mình. Với tỉ lệ đánh trúng bóng 0,297 của mình, ông đã giúp Dodger giành chiến thắng và ông dẫn đầu giải về số lần chạy cướp gôn. Ông còn được phong danh hiệu Cầu thủ mới nổi xuất sắc nhất mùa giải. Thế rồi đến năm 1949, ông được trao danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) Giải Bóng Chày Chuyên nghiệp Liên Đoàn và ông cũng thủ vai chính trong một bộ phim về cuộc đời mình. Năm 1957 ông giải nghệ với tỉ lệ đập trúng bóng là 0,311 và năm 1962 ông được vinh danh trong bảo tàng bộ môn bóng chày nước Mỹ, National Baseball Hall of Fame, người da đen đầu tiên nhận được vinh dự cao quý đó.

Sau khi về hưu, ông vẫn không ngừng cất tiếng nói đấu tranh với những bất công về màu da và cũng đóng góp nhiều vào công cuộc giành lại công bằng cho những người Mỹ khác. Lòng quả cảm của ông đã mở đường cho những giải thi đấu bóng chày chuyên nghiệp không còn rào cản màu da về sau. Rickey đã chọn đúng người. Jackie không chỉ là một cầu thủ giỏi, ông còn là một con người tuyệt vời! “Quyền tự do quan trọng nhất của con người đó là được tự do chọn lựa.” Jackie Robinson (1919 – 1972)


6.Rosa Parks
Rosa Louise McCauley Parks (4 tháng 2 năm 1913 – 24 tháng 10 năm 2005) là một nhà hoạt động nhân quyền người Mỹ gốc Phi, người đã được quốc hội Mỹ tôn vinh là “mẹ đẻ của phong trào nhân quyền hiện đại”.

Vào ngày 1 tháng 12 năm 1955 tại Montgomery, Alabama, Parks, khi đó 42 tuổi, đã từ chối lời đề nghị của người lái xe buýt James Blake yêu cầu nhường chỗ cho một hành khách da trắng. Dù không phải là người đầu tiên bất tuân lệnh những đề nghị có tính phân biệt chủng tộc nhưng hành động của Parks đã dấy lên phong trào tẩy chay xe buýt ở Montgomery.

Hành động của bà đã trở thành biểu tượng của phong trào nhân quyền hiện đại và Parks trở thành biểu tượng quốc tế đại diện cho phong trào phản đối sự phân biệt chủng tộc. Bà đã tổ chức và hợp tác với nhiều lãnh đạo nhân quyền, trong đó có cả Martin Luther King, Jr., Parks đã giúp ông giành được danh tiếng toàn quốc với phong trào nhân quyền.

Bà được tạp chí Time bầu chọn là một trong 100 nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế kỉ 20.


7.Marilyn Monroe
Norma Jeane Mortensen (1 tháng 6 năm 1926 – 5 tháng 8 năm 1962) với nghệ danh Marilyn Monroe, là một nữ diễn viên và người mẫu người Mỹ. Nổi tiếng với hình tượng một cô gái tóc vàng gợi cảm, Monroe trở thành một trong những biểu tượng sex nổi tiếng nhất thập niên 1950. Mặc dù sự nghiệp diễn xuất đỉnh cao chỉ kéo dài trong một thập kỉ, những bộ phim của cô đã thu về tổng cộng 200 triệu đô la Mỹ tính đến thời điểm cái chết đột ngột của cô năm 1962.[1] Sau khi qua đời, Monroe vẫn thường được nhắc đến như là một biểu tượng văn hóa đại chúng của nền điện ảnh Mỹ nói riêng và thế giới nói chung.[2]

Sinh ra và lớn lên tại Los Angeles, Monroe trải qua những năm tháng ấu thơ trong những cô nhi viện và trại mồ côi và kết hôn sớm vào năm 16 tuổi. Trong khi đang làm việc tại một nhà máy vào năm 1944 như là một phần của nỗ lực chiến tranh, cô đã được giới thiệu với một nhiếp ảnh gia từ First Motion Picture Unit và bắt đầu sự nghiệp người mẫu tương đối thành công. Những tác phẩm này giúp Monroe được ký kết hai hợp đồng làm phim ngắn hạn với 20th Century Fox (1946–1947) và Columbia Pictures (1948). Sau một vài vai diễn nhỏ, cô ký một hợp đồng mới với Fox vào năm 1951. Trong hai năm tiếp theo, cô đã trở thành một nữ diễn viên nổi tiếng với các vai diễn trong nhiều bộ phim hài, bao gồm As Young as You Feel và Monkey Business và kịch như Clash by Night và Don’t Bother to Knock. Trong khoảng thời gian này, nữ diễn viên phải đối mặt với một vụ scandal khi có thông tin tiết lộ rằng cô đã chụp ảnh khỏa thân trước khi trở thành ngôi sao, nhưng thay vì phá hủy sự nghiệp của cô, câu chuyện đã giúp gia tăng sự quan tâm của công chúng đến những bộ phim của cô.

Từ năm 1953, Monroe trở thành một trong những ngôi sao Hollywood đắt giá nhất với những vai diễn chính trong ba phim: bộ phim trắng đen Niagara, trong đó chú trọng vào hình tượng gợi cảm của cô, và trong hai bộ phim hài Gentlemen Prefer Blondes và How to Marry a Millionaire. Mặc dù luôn đóng vai trò chủ động trong việc sáng tạo và quản lý hình ảnh công chúng của bản thân trong suốt sự nghiệp, cô tỏ ra thất vọng khi bị các nhà làm phim giới hạn khả năng sáng tạo và trả lương thấp. Sự nghiệp của cô tạm gián đoạn vào năm 1954 vì từ chối một số dự án phim, trước khi trở lại với vai chính trong một trong những bộ phim ăn khách nhất trong sự nghiệp của cô, The Seven Year Itch (1955).

Trong khi hãng phim khá dè dặt trong việc thay đổi hợp đồng với cô, Monroe thành lập một tập đoàn sản xuất phim vào cuối năm 1954; cô đặt tên cho nó là Marilyn Monroe Productions (MMP). Monroe dành năm 1955 để xây dựng công ty của mình và bắt đầu nghiên cứu kỹ thuật diễn xuất tại Actors Studio. Đến cuối năm 1955, Fox quyết định thay đổi hợp đồng cho Monroe với mức thù lao cao hơn cũng như cho phép sáng tạo nhiều hơn. Sau vai diễn được đánh giá cao trong Bus Stop (1956) và diễn xuất trong bộ phim độc lập đầu tiên của MMP, The Prince and the Showgirl (1957), cô nhận thắng giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất vào năm 1960 với Some Like It Hot (1959). Bộ phim cuối cùng của cô được hoàn thành là The Misfits (1961).

Bên cạnh sự nghiệp diễn xuất, đời tư phức tạp của Monroe cũng là một chủ đề nhận được nhiều sự chú ý. Cô phải đấu tranh với việc lạm dụng chất gây nghiện, chứng trầm cảm và lo lắng. Hai cuộc hôn nhân ngắn ngủi của cô với cựu ngôi sao bóng chày Joe DiMaggio và nhà soạn kịch Arthur Miller đều được công chúng quan tâm và đều đi đến ly dị. Ngày 5 tháng 8 năm 1962, Monroe qua đời ở tuổi 36 tại nhà riêng ở Los Angeles. Mặc dù nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của cô là do tự tử bởi dùng thuốc an thần quá liều, những thuyết âm mưu đã được đặt ra trong nhiều thập niên sau sự ra đi của cô.


8.Emmeline Pankhurst
Emmeline Pankhurst (tên khi sinh Goulden; 15 tháng 7 năm 1858 – 14 tháng 6 năm 1928) là một nhà hoạt động chính trị và lãnh đạo phong trào đã giúp phụ nữ giành được quyền bỏ phiếu. Bà là người thành lập Liên đoàn Xã hội và Chính trị Phụ nữ. Hoạt động của liên đoàn được công nhận là một yếu tố quan trọng trong việc đạt được quyền bỏ phiếu cho phụ nữ tại Anh. Năm 1999, báo Time vinh danh Pankhurst là một trong 100 người quan trọng nhất của thế kỷ 20. Tờ báo nhận định: “bà đã uốn nắn tư tưởng cho phụ nữ trong thời đại của chúng ta, bà đã chuyển đổi xã hội vào một mô hình mới mà từ đó không thể nào lui trở lại”.


9.Billy Graham
Mục sư William Franklin Graham, Jr. KBE, được biết đến nhiều hơn với tên Billy Graham; (sinh ngày 7 tháng 11 năm 1918 – mất ngày 21 tháng 2 năm 2018), là nhà nhà truyền bá phúc âm (evangelist), và là một trong những nhà lãnh đạo có nhiều ảnh hưởng nhất của Phong trào Tin Lành thuộc cộng đồng Kháng Cách. Graham đã mang thông điệp Cơ Đốc đến cho số lượng người nghe đông đảo hơn bất kỳ ai khác từng sống trên đất. Đến năm 1993, hơn 2,5 triệu người công khai tiếp nhận Chúa Giê-xu tại các chiến dịch truyền giảng của ông. Đến năm 2002, trong suốt cuộc đời truyền bá phúc âm lâu dài, nếu tính cả số lượng thính giả của các chương trình phát thanh và truyền hình, Billy Graham đã giới thiệu phúc âm cho khoảng 2 tỉ người tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Nhiều bài giảng của ông tập chú vào chủ đề “Chúa Giê-xu Cơ Đốc là con đường duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi”. Ông thường cố vấn cho các Tổng thống Hoa Kỳ và liên tục có tên trong danh sách “Mười nhân vật được kính trọng nhất trên thế giới”, theo các cuộc thăm dò của Gallup Polls.


10.Pelé
Edson Arantes do Nascimento, được biết đến nhiều với tên Pelé, là một cựu cầu thủ bóng đá nổi tiếng người Brazil. Ông được xem là cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất mọi thời đại. Vào năm 1999, ông được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỉ 20 bởi hiệp hội IFFHS. Cũng trong năm đó, ông được IOC bầu chọn là Vận động viên của thế kỉ và được tạp chí TIME đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Vào năm 2013, ông được FIFA trao tặng giải thưởng Quả bóng vàng danh dự (Ballon d’Or Prix d’Honneur).

Được phát hiện từ khi còn rất trẻ, Pelé bắt đầu chơi ở Santos Futebol Clube khi mới 15 tuổi, ở đội tuyển quốc gia khi 16 tuổi và lần đầu đoạt Cúp Thế giới (World Cup) khi mới ở tuổi 17. Dù có nhiều lời mời từ các câu lạc bộ của Châu Âu, Pelé vẫn rất trung thành với câu lạc bộ của mình và đã chơi cho câu lạc bộ này trong suốt hai thập kỷ cho đến năm 1975.

Kể từ khi nghỉ hưu vào năm 1977, Pelé đã là một đại sứ toàn cầu về bóng đá và đã có nhiều hoạt động và thương mại liên doanh. Năm 2010, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch danh dự của đội bóng New York Cosmos.

Ông là cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil (77 bàn trong 92 trận) và ông cũng là người duy nhất trong lịch sử môn thể thao vua giành được 3 World Cup dưới cương vị một cầu thủ. Ngoài ra, ông cũng là cầu thủ duy nhất ghi được hơn 1200 bàn thắng trong suốt sự nghiệp cầu thủ, theo IFFHS là 1281 bàn thắng trong 1363 trận đấu, bao gồm cả những trận giao hữu.

Cùng Danh Mục:

BÌNH LUẬN