Top 5 di sản thiên nhiên lớn nhất trên thế giới

0
339

Danh sách là lớn nhất tự nhiên Di sản thế giới tính cho đến nay . Vậy chúng ta cùng tìm hiểu đó là nơi nào sau đây.

1.
Rạn san hô Great Barrier (Đại Bảo Tiều) là hệ thống rạn san hô lớn nhất thế giới, bao gồm khoảng chừng 3.000 tảng đá ngầm riêng rẽ và 900 hòn đảo, kéo dài khoảng 2.600 km, bao phủ một vùng có diện tích xấp xỉ 344.400 km2.Phần đá ngầm nằm ở khu vực Biển San Hô, cách bờ biển Queensland về hướng đông bắc Úc. Một phần lớn đá ngầm được bảo vệ bởi công viên hải dương rạn san hô Great Barrier.

Rạn san hô Great Barrier có thể được nhìn thấy từ ngoài không gian và có khi được quy cho là đơn thể lớn nhất thế giới.[Trong thực tế, nó được hình thành từ hàng triệu sinh vật nhỏ, là những polyp san hô.Rạn san hô Great Barrier cũng được công nhận là vào năm 1981. Đài CNN đã gọi nó là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Tổ chức Tín Quốc Queensland coi nó là biểu tượng của bang Queensland.

2.
Quần đảo Galápagos (tên chính thức: Archipiélago de Colón, tên tiếng Tây Ban Nha khác: Islas Galápagos, phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈislas gaˈlapaɣos]) là một quần đảo, tập hợp các đảo núi lửa nằm về hai phía xích đạo trên Thái Bình Dương, cách Ecuador 906 km (563 dặm) về phía tây và thuộc quốc gia này.

Quần đảo Galápagos và vùng nước xung quanh tạo thành tỉnh Galápagos của Ecuador, vườn quốc gia Galápagos và khu dự trữ biển Galápagos. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính trên quần đảo và số dân ở đây vào khoảng hơn 25.000.[1] Galápagos nổi tiếng với một số lượng lớn các loài đặc hữu từng được Charles Darwin nghiên cứu trong chuyến hành trình Beagle. Những quan sát và thu thập đã đóng góp cho sự khởi đầu thuyết tiến hóa của Darwin.

Con người đến Galápagos lần đầu vào năm 1535 một cách tình cờ khi giám mục Fray Tomás de Berlanga tới Peru để phân xử vụ tranh chấp giữa Francisco Pizarro và Diego de Almagro. Gió đã làm chệch hải trình và nhóm của Berlanga tới quần đảo vào ngày 10 tháng 3 năm 1535. Sau khi quay trở về đế quốc Tây Ban Nha, ông đã mô tả về nhóm đảo và những loài động vật cư trú ở đó. Quần đảo được chỉ ra và đặt tên trong tập atlat của Abraham Ortelius xuất bản năm 1570. Vào năm 1684, tên cướp biển Ambrose Cowley đã lập ra tấm bản đồ thô đầu tiên về quần đảo. Cowley đã đặt tên cho những hòn đảo riêng biệt theo tên của một số đồng bọn hoặc các hoàng thân và quý tộc Anh. Những tên này được dùng trong hải đồ chuẩn bị cho chuyến khảo sát Beagle do Robert Fitzroy chỉ huy và trong cuốn sách The Voyage of the Beagle nổi tiếng của Darwin. Đến năm 1832 nước Cộng hòa Ecuador mới đã tiếp quản quyền sở hữu quần đảo từ Tây Ban Nha và đặt cho nó những cái tên chính thức theo tiếng Tây Ban Nha. Các tên cũ vẫn còn được dùng trong các xuất bản phẩm tiếng Anh, trong đó có The Encantadas của Herman Melville.


3. / Wrangell-St Elias

Các khu bảo tồn và Vườn quốc gia: Kluane, Wrangell-St. Elias, Vịnh Glacier, Tatshenshini-Alsek là một hệ thống các khu bảo tồn và vườn quốc gia nằm tại Canada và Hoa Kỳ, trên biên giới giữa Yukon, Alaska và British Columbia.

Các khu bảo tồn này là một loạt cảnh quan tuyệt đẹp giữa núi cao và sông băng chạy dài hai bên biên giới. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ nơi đây là nơi cư trú của gấu xám Bắc Mỹ, tuần lộc và cừu Dall[1]… Kluane, Wrangell-St. Elias, Vịnh Glacier, Tatshenshini-Alsek là nơi có những con sông băng lớn và ngoạn mục nhất trên thế giới. Sự đa dạng sinh học của các khu bảo tồn thay đổi theo địa hình từ trong đất liền ra đến biển, kéo theo hệ động thực vật cũng thay đổi theo. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn này cũng là ví dụ điển hình của cảnh quan thiên nhiên băng tuyết núi cao, của những con sông băng khổng lồ và hệ động thực vật đa dạng sinh học.

Các khu bảo tồn và vườn quốc gia là hệ thống của 4 vườn quốc gia, khu bảo tồn, công viên tỉnh:

Vườn quốc gia và khu bảo tồn Kluane
Vườn quốc gia và khu bảo tồn Wrangell–St. Elias
Vườn quốc gia và khu bảo tồn Vịnh Glacier
Công viên tỉnh Tatshenshini-Alsek
được công nhận là thế giới năm 1979 và mở rộng vào các năm 1992 và 1994 với tổng diện tích là hơn 32.000.000 mẫu Anh (130.000 km 2).

4.Lake Baikal
Hồ Baikal (phiên âm tiếng Việt: Hồ Bai-can; tiếng Nga: о́зеро Байка́л, chuyển tự. Ozero Baykal, IPA [ˈozʲɪrə bɐjˈkal]; Buryat: Байгал нуур, tiếng Mông Cổ: Байгал нуур, Baygal nuur, nghĩa là “hồ tự nhiên”; tiếng Kyrgyz: Байкол) là hồ lâu đời nhất trên thế giới.

Hồ nằm ở phía nam Siberi thuộc Nga, giữa tỉnh Irkutsk ở phía tây bắc và nước Cộng hòa Buryatia ở phía đông nam, đây là hồ nước ngọt có lượng nước lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 20% tổng lượng nước ngọt không bị đóng băng quanh năm trên bề mặt thế giới.

Với 1.642 m (5.387 ft), Baikal là hồ sâu nhất và nằm trong số các hồ trong nhấ trong tất cả các hồ trên thế giới. Tương tự như hồ Tanganyika, hồ Baikal được hình thành từ một thung lũng tách giãn cổ có hình lưỡi liềm dài với diện tích bề mặt 31.722 km2 (12.248 sq mi), nhỏ hơn so với hồ Superior hay hồ Victoria. Baikal là nơi sinh sống của hơn 1.700 loài động thực vật, hai phần ba trong số đó không thể tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới và đã được UNESCO công nhận là một Di sản thế giới vào năm 1996. Khu vực bờ đông của hồ Baikal là nơi sinh sống của các bộ lạc người Buryat, họ chăn nuôi dê, lạc đà, bò và cừu, trong một môi trường khắc nghiệt khi nhiệt độ trung bình tối thiểu vào mùa đông là −19 °C (−2 °F) và tối đa trong mùa hè chỉ là 14 °C (57 °F).


5.Air and Ténéré Natural Reserves
Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Aïr và Ténéré là một khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia thuộc quốc gia Tây Phi Niger. Khu vực được công nhận là di sản thế giới của UNESCO. Khu vực bao gồm nửa phía đông của dãy núi Aïr và các phần phía tây của sa mạc Ténéré. Không những mang giá trị về tự nhiên, nơi đây còn là một vùng chim quan trọng của tổ chức BirdLife International.

Khu bảo tồn được công nhận là di sản thế giới vào năm 1991, và được đưa vào danh sách di sản thế giới bị đe dọa vào năm 1992. Toàn bộ khu vực có diện tích 77.360 km 2, khiến nó trở thành khu bảo tồn thiên nhiên lớn thứ hai ở châu Phi, và lớn thứ tư trên thế giới.

Cùng Danh Mục:

BÌNH LUẬN