Top 6 lễ hội truyền thống lớn và nổi tiếng nhất ở Hà Giang

0
613

Mỗi vùng đất trên nước ta đều có những bản sắc riêng với những lễ hội đặc sản vùng miền khác nhau . Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu xem những đặc sắc ở nhé.

1.Lễ hội chọi dê trên cao nguyên đá Đồng Văn
Hội chọi dê là nét văn hóa đặc sắc chỉ có tại vùng cao nguyên đá Hà Giang. Vào ngày này, những con dê của đồng bào người Mông, Dao, Tày chăn thả trên khắp vùng cao nguyên đá trở thành nhân vật trung tâm với nhiều màn biểu diễn nóng bỏng.

Hà Giang là nơi sinh sồng của cộng đồng 16 dân tộc với những nét văn hóa truyền thống vô cùng đa dạng. Lên Hà Giang thời gian này du khách sẽ được hòa mình vào không khí lễ hội chợ tình Khau vai độc nhất vô nhị và đặc biệt được tham gia vào hội chọi dê của cộng đồng các dân tộc vùng cao Mèo Vạc, nét văn hóa đặc sắc chỉ có tại vùng cao này. Đây là lễ hội truyền thống mang ý nghĩa tâm linh nhằm mang lại may mắn cho những người chăn nuôi trên vùng cao nguyên đá.

Trong lễ hội này, những con dê hàng ngày được đồng bào dân tộc chăn thả sẽ trở thành những đấu sĩ dũng mãnh với những pha chiến đấu nảy lửa chẳng kém những chú trâu chọi. Người dân chọn những con đực to, khỏe nhất để tham gia thi đấu. Ai cũng mong muốn chú dê của mình giảnh giải để may mắn cho một năm chăn thả. Sới chọi dê được tổ chức đơn giản trên một khu đất bằng phẳng trên sườn núi được giới hạn bởi hàng cọc tre, chăng dây thừng bao quanh khu vực thi đấu. Những chú dê được đánh số và sẵn sàng cho những trận chiến khốc liệt.

2.Lễ hội “Nhảy lửa” của người Dao đỏ ở Hồ Thầu
Bao giờ cũng vậy, trước Tết Nguyên đán hàng tháng, những người sinh ra ở xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang nói chung và người Dao đỏ nói riêng đều chuẩn bị cho chuyến đi đầu xuân trở về quê hương. Đặc biệt là về dự Lễ hội khai xuân được tổ chức vào những ngày đầu của năm mới, các ngày tổ chức lễ hội cố định, mà phụ thuộc vào ngày đẹp, giờ đẹp được các già làng, trưởng họ hay thầy tạo xem xét kỹ lưỡng, từ mồng 2 đến mồng 5 tháng giêng âm lịch

Sáng ngày đã chọn, tất cả người dân trong xã cùng nhau kéo về khu trung tâm xã, thường thì họ mang theo nhiều kiến thức ăn, đồ uống của ngày tết về dự lễ hội. Và những già làng, những ông trưởng họ đã cùng với thanh niên trong xã chuẩn bị cho ngày lễ những thứ cần thiết, như đồ cúng, những thực phẩm, lương thực, bánh trái dành cho bữa ăn trưa.

Đúng giờ đẹp, giờ tốt, phần chính lễ được bắt đầu, những đồ lễ mang tính dân tộc, theo tập quán người Dao đỏ được bày ra một chiếc bàn dài, nơi được coi là chỗ trang nghiêm nhất, trước chiếc sân rộng. Ngay giữa sân, một đống củi to đã được thanh niên mang đến, xếp gọn gàng, như đống củi thường đốt trong những đêm lửa trại. Ông chủ lễ bắt đầu ngồi xuống ghế, niên phụ lễ và bài cúng thần lửa được cất lên bằng những câu cầu may cho một năm mới, một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, cầu mong “mưa thuận, gió hoà”, muôn nhà khoẻ mạnh. Rồi sau đó là nhân ngày đầu xuân, chủ lễ mong cầu thần lửa mang hơi ấm của mình về sưởi ấm dân làng, về vui cùng lễ hội. Trong lúc chủ lễ cầu khấn, cũng là lúc người phụ lễ dùng một gióng vầu tre đã được chuẩn bị từ trước, được chẻ đôi, cầm chặt vào nhau như chưa hề chẻ ra, gieo xuống bàn hay xuống đất. Hình thể như ông thầy cúng của dân tộc Kinh làm lễ, “gieo quẻ xin âm dương”, khi hai mảnh tre hay vầu cùng ngửa, hay cùng sấp thì cũng có nghĩa là thần lửa đã đồng ý về vui cùng dân bản, còn một sấp, một ngửa thi phải xin lại, đến lúc nào được thì thôi.

Bắt đầu vào buổi lễ, cũng là lúc đống củi được đốt lên, đến khi này, đống củi đã trở thành một đống than hồng rừng rực cháy. Những người muốn được nhảy lửa đã ngồi “hầu lễ” từ đầu buổi lễ, họ lấy que tre gõ liên tục vào những nửa ống vầu đã chuẩn bị sẵn và sẵn sàng ngồi xin thần lửa cùng vui nhảy lửa, chủ lễ lại tiếp tục “gieo quẻ xin âm dương”, đến khi thần lửa đồng ý. Và thường thì từng đôi một nhảy lửa, họ đi chân không trên đống than, họ nhảy, họ lăn vòng trên than hồng khi lửa còn lem lém bốc cháy theo từng bước chân của họ. Và khi những đôi bắt đầu được thần lửa đồng ý cho nhảy lửa thì cũng là lúc các đôi khác tiếp tục vào “hầu lễ” để được là người nhảy lửa tiếp theo, cứ đôi nọ, nối tiếp đôi kia cho đến khi đống than hồng tắt lịm dưới những đôi chân trần đen nhẻm do than để lại. Và cũng thật kỳ lạ, chẳng có ai bỏng chân, tay, cháy quần áo, mắt ai cũng như say lờ đờ, ánh lửa mùa xuân như vẫn rừng rực cháy trong lòng họ. Và tình xuân thì đang rực cháy trong hàng trăm đôi mắt các cô gái người Dao dõi theo những chàng trai chưa có vợ, đang nhảy lửa, để rồi xong hội xuân, họ tìm đến nhau, nhen nhóm tình yêu, thương trộm, nhớ thầm để rồi nếu hợp duyên, bén số sẽ nên vợ, nên chồng. Mùa xuân sau, họ lại địu con, theo chồng xuống cùng lễ hội khai xuân, mong thần lửa mang về cho họ hơi ấm tình yêu, hơi ấm của mùa màng no ấm, hạnh phúc.

Lễ hội nhảy lửa chỉ là một phần trong lễ hội khai xuân của người Dao đỏ Hồ Thầu, bên cạnh là lễ hội đẩy gậy, lễ hội “hát mừng xuân” và nhất là khi xong phần lễ là phần hội xuống đồng, tết trồng cây, một sự khởi đầu cho một năm làm ăn mới. Một truyền thống đẹp và cũng mang đậm nét văn hoá truyền thống của dân tộc Dao đỏ ở xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì. Lễ hội nhảy lửa, lễ hội khai xuân cũng là một điểm đến cho những tour du lịch văn hoá trong tương lai ở Hà Giang.


3.Lễ cúng thần rừng của người Pu péo
Người Pu Péo là tộc người chỉ sinh sống ở tỉnh Hà Giang và sống tập trung nhất ở xã Phố Là, huyện Đồng Văn. Tuy dân số không đông nhưng có bản sắc dân tộc đa dạng và bảo lưu được nhiều truyền thống tốt đẹp.Trong năm, ngoài tết đầu năm mới, thì Lễ cúng rừng là quan trọng nhất đối với người Pu Péo, dù đi đâu, làm gì con cháu cũng nhớ ngày 6-6 âm lịch hàng năm về xum họp với gia đình, bản làng trong lễ cũng.

Buổi lễ diễn ra ở rừng cấm – rừng thiêng đầu bản, ông thầy cúng kính cẩn thay mặt bà con úp mặt vào một thân cây lớn, quỳ lạy bốn phương trời tám phương đất hai hồi, mỗi hồi ba lần để mong thần rừng, thần nước che chở cho bản làng. Người Pu Péo luôn hiểu rằng, giữ rừng là giữ nguồn nước, cầu thần nước là cầu thần rừng!? Cho nên, ngày Tết, trai gái ở bản Pu Péo mới nô nức kéo nhau ra suối gánh nước vàng nước bạc về nhà cầu may.

Đồ lễ được bày biện trên những cái nong hoặc lá chuối rừng, bàn thờ được dựng bằng cây trúc màu xanh, cao gần hai mét, quay mặt về phía đỉnh núi cao. Những vuông cơm tẻ giã nhuyễn, nặn thành bánh, xắt khúc được bày biện cẩn thận trong những cái nong tròn. Nhiều miếng cơm được xếp thành hàng thành lối trên lá chuối tươi, (mỗi nắm cơm tượng trưng cho một vị thần, người Pu Péo theo tín ngưỡng đa thần, thần Rừng, thần Trời, thần Đất, thần Suối, thần Gió…) Trên mỗi nắm cơm là một mẩu trứng gà luộc (quả trứng luộc, bóc vỏ, sau đó xắt ra). Dưới chân bàn thờ làm bằng trúc tươi, lót lá chuối tươi xanh có buộc hai con gà vẫn còn sống nguyên, mỗi con gà buộc dây, dây cắm vào một cái cọc. Xung quanh là bình rượu và những cái chén. Cách bàn thờ một chút, là một cái cọc khác, có buộc một con dê cái vẫn sống, lông màu đen.

Lễ cúng kéo dài vài tiếng đồng hồ, thầy cúng cầm một cành trúc tươi, còn nguyên cả lá, khua đi khua lại suốt thời gian hành lễ. Có lúc tay lại cầm một quả bẩu khô. Bài cúng, có thể hiện sự thành kính của con người xướng lên trước thần rừng Thần Trời, thần Đất, thần Rừng mời họ về chứng kiến lễ cúng, hưởng thịt gà, thịt dê và phù hộ cho con người khoẻ mạnh, mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi. Cầu cho rừng ngày một xanh tốt chở che cho con người. Bà con trong thôn xin thề trước thần Rừng, sẽ giữ gìn rừng thật tốt, ai săn bắn, chặt cây trong rừng thì sẽ bị thần Rừng trừng phạt. Rừng tốt tươi, trời đất giao hoà, bảo hộ cho cuộc sống của bà con Củng Chá. Mưa không gây lũ, nắng không gây hẹn, bão gió sấm sét không đánh chết người

Lễ cúng chia làm ba giai đoạn, đoạn đầu cả con gà và con dê cái còn sống nguyên; đoạn hai, chúng đã bị đám thanh niên cắt tiết; và cuối cùng là phần liên hoan kết thúc buổi lễ, mọi người cùng ăn uống tại địa điểm cúng luôn. Những nhà nào không tham dự, cũng được chia phần, khắc có người mang về tận nhà. Những người có mặt phải ăn hết thịt, uống hết rượu ngay tại bãi cỏ xanh bìa rừng để cầu may mắn.

Suốt cuộc đời người Pu Péo gắn với rừng. Bà con quan niệm rất rõ, họ chỉ cúng tiên 5 đời trở lại trong nhà mình; còn tổ tiên trước 5 đời, các vị thường ở trong Rừng, ngụ tại các gốc cây đa to. Cho nên, tín ngưỡng thời giữ rừng, cúng rừng, với người Pu Péo, cũng chính là cúng tổ tiên
Trong thời gian một ngày, với không khí tưng bừng, đoàn kết của các dân tộc trong xã, phần lễ đã được các nghệ nhân dân gian dân tộc Pu Péo thực hiện nghiêm túc, đảm bảo những yêu cầu cơ bản theo phong tục tập quán truyền thống của Lễ cúng thần rừng. Phần hội được toàn thể nhân dân trong xã tham gia hưởng ứng sôi nổi. Với những nội dung thi đấu các môn thể thao truyền thống như đẩy gậy, kéo co, đánh yến, chơi “ào”, nhảy cóc đã thu hút đông đảo bà con các dân tộc trong xã tham gia. Ngoài ra, còn có chương trình múa hát các làn điệu dân ca, hát đối đáp, giao duyên được các nghệ nhân dân gian của xã trình bày, thể hiện được cuộc sống hàng ngày của bà con dân tộc Pu Péo


4.Lễ hội cầu mưa của người Lô Lô
Lễ hội cầu mưa của dân tộc người Lô Lô, Mèo Vạc, Hà Giang thông thường được tổ chức vào tháng ba âm lịch, vào các ngày 15, 17 hoặc 19. Với những nghi thức đặc sắc, độc đáo, lễ cầu mưa được lưu truyền từ đời này tới đời khác, đến nay không chỉ là một sự kiện mang tính tín ngưỡng, mà còn là dịp để mọi người gặp gỡ, bàn chuyện làm ăn, cầu may, bày tỏ lòng thành kính với đất trời, trai gái giao duyên…

Việc cầu mưa không thể làm tùy tiện, không phải năm nào cũng làm lễ, mà chỉ vào những năm thời tiết khắc nghiệt, khô hạn, người dân trong vùng mới tập trung lại, mời người làm lễ (là trưởng xóm hoặc người cao tuổi có uy tín trong khu vực).

Trước đây, những nhà giàu trong bản sẽ đứng ra chịu toàn bộ chi phí cho buổi lễ. Nhưng ngày nay, muốn có mưa xuống để cây cối được tốt tươi, có nước gieo trồng, mỗi nhà đều lo gom góp một lễ vật mang đến nhà thầy cúng hoặc nhà trưởng bản, người thì con gà con chó, người thì cân gạo, chai rượu … Để cho lễ cầu mưa thành công, không thể thiếu một thủ tục đầu tiên, đó là làm lễ xin các thầy cúng tiền bối (nếu các thầy cúng tiền bối không đồng ý, có làm lễ cầu khấn thế nào cũng không có mưa). Thủ tục xin khá đơn giản, bao gồm một chén nước, hương và giấy trúc (một loại giấy chuyên dùng vào việc cúng tế của người Lô Lô, nhìn gần giống như giấy bản). Trước hết thầy cúng thắp hương tại bàn thờ gia tiên, sau đó đặt giấy trúc, chén nước xuống một góc nhà và khấn xin. Sau đó ông bọc tờ giấy trúc lên chén nước, nếu nước trong chén không bị thấm hoặc đổ ra ngoài thì việc xin phép mới linh nghiệm và lễ cầu mưa mới thành công. Cuối cùng, thầy cúng đốt tờ giấy trúc, hoàn tất thủ tục.

Nơi thực hiện lễ cầu mưa thường là một bãi đất rộng, cao, ngay cạnh nương rẫy. Đồ tế lễ phải có rượu ngô, chó, gà, một thanh kiếm (có thể bằng sắt hoặc gỗ), một bát nước, bốn chén rượu, bốn ống hương bằng tre tượng trưng cho bốn phương trời.

Các thiếu nữ chuẩn bị trang điểm, mặc trang phục truyền thống của người Lô Lô, các nhạc cụ cần thiết để vào lễ. Các trai bản thì lo làm lễ vật dâng cúng. Nhạc cụ không thể thiếu trong buổi lễ là trống đồng và nhị. Chiếc trống đồng hay cây nhị chuyên dùng trong lễ cầu mưa.

Phần lễ : Trưởng xóm hoặc người cao tuổi có uy tín trong khu vực, biết đầy đủ những nghi thức thực hiện lễ cầu mưa. Là người chịu trách nhiệm phần lễ, những nghi lễ tiến hành cùng với sự tham gia của dân xóm. Những nghi thức cúng này được tiến hành hai lần. Những lễ vật sống dâng cúng như chó, gà sẽ được dắt đến nơi hành lễ, buộc quanh bàn lễ và người tế lễ khấn cầu xin phép dâng lễ. Sau đó chúng sẽ được các trai tráng trong xóm mang đi làm thịt, xong lại dâng lên cúng lần nữa.

Bài khấn bằng tiếng Lô Lô, cầu cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa, làng bản no ấm. Bài khấn dài và thanh âm trầm bổng như một bài văn tế, người khấn như hát văn, nghe du dương trong tiếng trống, tiếng nhị. Sau khi khấn xong, người làm lễ sẽ đốt giấy bản ở bốn góc bàn, vẩy rượu ra bốn phương tạ ơn trời đất.

Phần hội : Cúng xong, dân bản quây quần uống rượu, ăn thịt, múa hát xung quanh bàn lễ. Các cô gái Lô Lô xinh đẹp nhảy múa trong bộ váy áo truyền thống, thêu hoa văn rực rỡ, vừa nhảy múa vừa kéo nhị. Thể hiện những nét tinh túy trong đời sống văn hóa của người Lô Lô, qua những bộ trang phục sặc sỡ mà tinh tế, qua những nhạc cụ độc đáo và những làn điệu dân ca, những điệu múa đặc sắc. Lễ cầu mưa cũng là dịp để người dân tụ hội, bàn chuyện làm ăn, trai gái thì múa hát giao duyên.

Người Lô Lô tin rằng, sau khi làm lễ, chỉ trong vòng từ 3 đến 9 ngày là có mưa.


5.Lễ hội nhảy lửa cầu may của người Pà Thẻn
Nhảy lửa là một lễ hội độc đáo, mang đậm nét huyền bí, hoang sơ của dân tộc Pà Thẻn, đang sinh sống ở hai huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang) và Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang) trong dịp đầu năm để mừng lúa mới, cầu chúc cho cả năm khoẻ mạnh, sung túc, mùa màng bội thu. Lễ hội nhảy lửa được tổ chức khi đồng áng đã thu hoạch xong từ giáp Tết (15/12 âm lịch) cho đến hết ngày rằm tháng giêng.

Lễ hội được tổ chức trên một bãi đất rộng, bằng phẳng trong làng hoặc trước sân nhà thầy cúng. Tại lễ hội này, mỗi người tham gia lế nhảy lửa đều đem củi tới góp vui.
Để bắt đầu lễ hội, thầy mo làm lễ cầu thần linh. Lễ vật gồm có một bát hương, đàn sắt, con gà, 10 chén rượu và tiền giấy.

Một đống lửa lớn được đốt lên và thầy mo bắt đầu hành lễ. Thời gian làm lễ kéo dài một, hai giờ trước khi được bắt đầu lễ hội nhảy lửa. Khi thầy mo gõ vào đàn và làm lễ cúng, từng thanh niên sẽ ngồi đối diện với thầy và đó chính là lúc nhập đồng cho người nhảy lửa.

Những động tác lắc lư của các chàng trai mạnh dần. Họ bắt đầu bật lên và nhảy ra gần đống lửa. Trong phút xuất thần, họ bỗng thăng hoa mạnh mẽ, phi thường và biến ảo.

Cứ sau 20 phút nhập thần, lại có một đợt nhảy như vậy. Vũ điệu cùng lửa càng về sau càng trở nên sôi động. Người xem ngày càng bị cuốn hút vào từng bước nhảy của các nghệ nhân và dường như chính bản thân họ cũng bị cuốn vào không khí linh thiêng này.

Ở đợt nhảy cuối cùng, chính thầy mo, linh hồn của buổi lễ, cũng thăng hoa, tung lên những bước nhảy mạnh mẽ, oai phong. Chiếc áo khoác đỏ và chiếc mũ sặc sỡ hoà cùng những hoa lửa rực rỡ tạo thành một khung cảnh vừa hoành tráng vừa mê hoặc.

Ngày nay, tại các bản làng của người Pà Thẻn, lễ hội nhảy lửa vẫn tổ chức thường xuyên vào dịp Tết với nét nguyên sơ. Đây cũng là một trong những tâm điểm của khách du lịch khi muốn khám phá văn hóa độc đáo của dân tộc Pà Thẻn nói riêng cũng như các dân tộc miền núi phía Bắc nói chung.

6.Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mông
Dân tộc Mông là một trong 22 dân tộc anh em cùng sinh sống trên mảnh đất cực Bắc Hà Giang.Sống rải rác trên các triển núi cao giữa thiên nhiên, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nhưng đồng bào Mông có một đời sống tinh thần, tâm linh phong phú, đa dạng. Ngoài lễ tết thông thường và các nghi lễ trong đời sống, người Mông đặc biệt thích “Hội Gầu Tào”.Lễ hội được tổ chức vào mùa xuân hay những dịp nông nhàn do một gia đình hay một làng chủ trì và được tổ chức trên một bãi đất rộng quanh làng, hay một nương ngô đã thu hoạch xong.

Trước ngày hội Trưởng bản thông báo cho các hộ gia đình trong bản biết và thông báo cho các hộ gia đình các dân tộc khác cùng sống trong khu vực đến tham gia ngày hội với dân bản.

Từ sáng sớm người dân trong bản đều mặc bộ trang phục truyền thống mới nhất của mình, người con gái mang ô, người con trai mang khèn đến tập trung ở khu vực diễn ra lễ hội cùng biểu diễn thi tài.
Hội Gầu Tào gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội.

Phần lễ: Được bắt đầu bằng lễ dựng cây nêu với ý nghĩa thông báo mờ hội đồng thời thể hiện sức sống trường tồn của làng bản người Mông trên mảnh đất cao nguyên đá. Khi cây nêu đã dựng xong: bản làng có một mâm lễ đặc dưới cây nêu để cúng thần linh và tổ tiên, trời đất.

Mâm lễ (một thủ lợn, một đĩa xôi, một chai rượu, bốn cái bát con, bốn cái chén, bốn cái thìa): đây là lễ vật dâng cầu vận may, sức mạnh thể hiện ở chỗ con vật bốn chân ứng với bốn vị thần trời, đất, sông, núi.

Vào lễ, gia chủ đặt dưới chân cây nêu mâm lễ và khấn tạ trời đất đã cho gia đình được toại nguyện.

Phần hội: Sau khi phần lễ kết thúc, phần này được tổ chức với nhiều trò chơi bổ ích, lý thú. Đó là những trò chơi dân gian, như đánh yến, đấu võ, bắn nỏ… còn những trò vui mang tính nghệ thuật như múa khèn, thổi sáo, thi hát đối đáp… Hội thi là nơi để thanh niên nam nữ trổ tài và cũng chính là nơi họ gặp gỡ, tâm sự và tìm hạnh phúc cho mình. Là một lễ hội lớn, một sinh hoạt văn hoá đặc sắc với đủ loại hình văn hoá nghệ thuật dân gian, hội Gầu Tào thực sự hẫp dẫn. Từ dụng ý ban đầu là lễ tạ ơn chúc tụng con đàn cháu đống, mang màu sắc tôn giáo, Gầu Tào trở thành lễ hội trổ tài và giao duyên của nam nữ thanh niên Mông.

Lễ hội Gầu Tào còn là một phương tiện để củng cố phát triển mối quan hệ giữa các cá nhân, giữa các gia đình hay các cộng đồng làng bản để thắt chặt tình đoàn kết. Lễ hội góp phần làm cho diện mạo của đời sống văn hoá Mông thêm sinh động, đa dạng và là nguồn lực thúc đẩy tinh thần dân tộc Mông nói riêng và tinh thần nhân dân các dân tộc vùng cao nói chung./.

Cùng Danh Mục:

BÌNH LUẬN